DƯỢC BỆNH VIỆN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ, Y HỌC CHÍNH XÁC VÀ CÁ THỂ HOÁ: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
00:00 · 23/02/2026 · TS.DS. Cao Hưng Thái, Chủ tịch Hội Dược sĩ bệnh viện Việt Nam · 646 lượt xem

Hoạt động dược bệnh viện là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu của bệnh viện, là thành tố, yếu tố tác động và ảnh hưởng lớn đến chất lượng điều trị. Trước nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng cao của nhân dân đặc biệt trong kỷ nguyên số, y học cá thể hoá và y học chính xác, dược bệnh viện đang đứng trước những thách thức lớn song cũng có nhiều thời cơ và vận hội mới.

Dược bệnh viện cần phải chuyển mình, thay đổi mạnh mẽ không chỉ về phát triển hoạt động chuyên môn mà cả về tổ chức quản lý lẫn ứng dụng công nghệ, đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

 Hệ thống khám chữa bệnh của Việt Nam, hiện có hơn 1600 bệnh viện. Theo Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, bệnh viện được phân loại làm 03 cấp: cơ sở, cơ bản và chuyên sâu. Việc phân loại do cơ quan quản lý có thẩm quyền quyết định căn cứ và tiêu chí quy định. Theo lượng giá có thể ước phân loại: cấp cơ sở gồm phần lớn các bệnh viện huyện (cũ); cấp cơ bản gồm các bệnh viện tỉnh, thành phố; cấp chuyên sâu kỹ thuật cao gồm các bệnh viện trung ương và một số bệnh viện tỉnh, thành phố. Cơ cấu tổ chức của các bệnh viện gồm khối lâm sàng, cận lâm sàng (trong đó có Khoa Dược).

Hoạt động dược bệnh viện và nhiệm vụ của khoa Dược thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành như Luật Dược, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, các Nghị định của Chính phủ, các thông tư của Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật và Nghị định, theo đó có những nhiệm vụ quan trọng:

Hoạt động đầu tiên là cung ứng đủ thuốc thuốc có chất lượng đáp ứng nhu cầu điều trị, đây là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của bệnh viện. Để thực hiện nhiệm vụ này, hàng năm dựa vào mô hình bệnh tật tại địa phương, khu vực, nhu cầu điều trị tại bệnh viện và năng lực chuyên môn kỹ thuật, các bệnh viện xây dựng kế hoạch cung ứng sử dụng thuốc tại bệnh viện. Để các bệnh viện hoàn thành được nhiệm vụ này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan như: (1) tính sẵn có của thuốc trên thị trường. Yếu tố này trong những năm vừa qua nhất là sau đại dịch covid 19, thị trường vẫn còn tình trạng thiếu nguồn cung một số thuốc, nguyên nhân do thiếu nguyên liệu trong sản xuất hoặc chi phí nguyên liệu và giá thành sản phẩm cao, lợi nhuận thấp các công ty dược không sản xuất hoặc không cung ứng dẫn đến thiếu thuốc; (2) gia tăng dân số và già hoá dân số: Việt Nam hiện có trên 102 triệu người/năm 2025, trung bình hàng năm tăng khoảng 1%, tỷ lệ người già tăng từ 14%/năm 2024 lên 14,5%/năm 2025. Theo thống kê hiện nay người già đa số mắc đa bệnh, trung bình người già mắc 2,6 bệnh/người; (3) mô hình bệnh tật tiếp tục thay đổi, chúng ta đang phải đối mặt với mô hình bệnh tật kép: bệnh truyền nhiễm vẫn diến biến phức tạp, khó lường, xuất hiện bệnh dịch mới nổi, bệnh hiếm; bên cạnh đó bệnh không lây nhiễm gia tăng nhanh chóng như ung thư, tim mạch, tiểu đường vv; (4) tai nạn, thương tích, thiên tai, bão lụt thường xuyên xảy ra….(5) nguy cơ kháng thuốc nói chung và kháng thuốc kháng sinh nói riêng: Hiện ở nước ta vẫn tiếp tục gia tăng kháng kháng sinh. Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao trên thế giới, đây là một thách thức không nhỏ đối với ngành y tế. Hậu quả của kháng thuốc kháng sinh làm kéo dài thời gian điều trị, gia tăng chi phí điều trị, đảo lộn các thành tựu khoa khọc kỹ thuật, nguy cơ tử vong và tăng tỷ lệ tử vong người bệnh, dẫn đến nguy cơ không có kháng sinh để điều trị.

Những yếu tố nói trên tác động không nhỏ tới việc lập kế hoạch, dự trù vật tư hoá chất đặc biệt là nhu cầu thuốc cho điều trị tại các bệnh viện. Bên cạnh đó việc tổ chức mua sắm thuốc tuân thủ theo quy định của Luật đấu thầu mới. Luật đã có nhiều đổi mới, phân cấp phân quyền tạo điều kiện cho bệnh viện. Tuy nhiên quy định giao cho bệnh viện tự chủ trong mua sắm, nhưng chịu trách nhiệm giải trình điều này cũng là thách thức với bệnh viện, khi nguồn nhân lực, cán bộ tham gia hoạt động mua sắm đầu thầu của bệnh viện thiếu về số lượng yếu về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đối với khoa dược phần lớn thời gian, công việc và nhân lực tập trung cho hoạt động mua sắm thuốc. Quá trình tổ chức đấu thầu qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn, thời gian tổ chức đấu thầu dài chưa kể kết quả trúng thầu không được như mong muốn và mục tiêu đặt ra.

Thứ hai, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả bao gồm các hoạt động chính như thông tin thuốc, cảnh giác dược và hoạt động dược lâm sàng bao gồm: Tư vấn trong quá trình xây dựng danh mục thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tư vấn và giám sát việc kê đơn và sử dụng thuốc; thông tin, hướng dẫn sử dụng thuốc cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, người sử dụng thuốc và cộng đồng; tham gia xây dựng quy trình, hướng dẫn chuyên môn liên quan đến sử dụng thuốc và giám sát việc thực hiện các quy trình; phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc tại bệnh viện; tham gia theo dõi, giám sát phản ứng có hại của thuốc; tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học liên quan đến sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả vv.

Để thực hiện các nhiệm vụ này, theo quy định của Nghị định số 131/2020/NĐ-CP các bệnh viện phải có bộ phận dược lâm sàng; số lượng người phụ trách công tác dược lâm sàng và người làm công tác dược lâm sàng: (1) bệnh viện có từ 200 giường bệnh trở lên phải bố trí 01 người phụ trách công tác dược lâm sàng và phải có số lượng người làm công tác dược lâm sàng với tỉ lệ ít nhất 01 người cho mỗi 200 giường bệnh nội trú, (Lộ trình đến 01/01/2026 bệnh viện hạng II trở lên ít nhất 01 người/150 giường bệnh; đến 01/01/2031, bệnh viện phải bảo đảm ít nhất 01 người/100 giường bệnh) và ít nhất 01 người/1.000 đơn thuốc được cấp phát cho người bệnh ngoại trú có thẻ bảo hiểm y tế trong một ngày (lộ trình đến 01/01/2026 ít nhất 1,5 người/1.000 đơn thuốc và đến 01/01/2031, ít nhất 02 người/1.000 đơn thuốc); (2) bệnh viện có dưới 200 giường bệnh hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tổ chức khoa dược theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh phải có ít nhất 01 người phụ trách công tác dược lâm sàng kiêm người làm công tác dược lâm sàng phục vụ người bệnh nội trú (nếu có) và phải có số lượng người làm công tác dược lâm sàng với tỉ lệ ít nhất 01 người cho mỗi 1.000 đơn thuốc được cấp phát cho người bệnh ngoại trú có thẻ bảo hiểm y tế trong một ngày; nhà thuốc trong khuôn viên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có ít nhất 01 người làm công tác dược lâm sàng cho 01 địa điểm kinh doanh của nhà thuốc. Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của nhà thuốc có thể đồng thời là người làm công tác dược lâm sàng.

Hiện nay, các bệnh viện nói chung đã và đang quan tâm triển khai thực hiện Nghị định 131/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động dược lâm sàng như: củng cố hình thành bộ phận dược lâm sàng của khoa Dược; quan tâm tuyển dụng mới dược sĩ lâm sàng; đào tạo liên tục cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ hiện có; phân công người phụ trách chuyên môn dược lâm sàng; dược sĩ lâm sàng đi buồng cùng với bác sĩ, tham gia hội chẩn, hội đồng chuyên môn vv, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu: hầu hết các bệnh viện chưa đáp ứng được chỉ tiêu tỷ lệ dược sĩ lâm sàng/giường bệnh (1 DSLS/150 giường bệnh và 1 DSLS/1000 đơn thuốc) chỉ có một số ít bệnh viện trung ương chuyên sâu kỹ thuật cao đáp ứng chỉ tiêu này. Đặc biệt đối với hầu hết các bệnh viện cấp cơ sở thì chưa triển khai được hoạt động dược lâm sàng một cách đầy đủ theo quy định do không có, chưa có cán bộ dược lâm sàng. Đây là một thách thức lớn đối với các bệnh viện nói chung và bệnh viện cấp cơ sở nói riêng.

Trong quá trình triển khai hoạt động dược bệnh viện, mặc dù còn nhiều khó khăn thách thức nhưng có nhiều cơ hội, thuận lợi đối với các bệnh viện: (1) các chính sách pháp luật liên quan đến dược bệnh viện đã được, bổ sung, sửa đổi phù hợp tình hình thực tiễn như Luật đấu thầu, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dược, Luật Khám bệnh chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ, các Bộ ngành và Bộ Y tế; (2) hệ thống quy chế chuyên môn (hướng dẫn chuyên môn, quy trình kỹ thuật, quy chế) thường xuyên được cập nhật phù hợp với khoa học và thực tế đồng thời hội nhập khu vực và thế giới đáp ứng yêu cầu, nhu cầu điều trị cá thể hoá người bệnh và độ chính xác cao bảo đảm an toàn người bệnh và nâng cao chất lượng điều trị; (3) chuyển đổi số trong khám bệnh chữa bệnh được tăng cường với các đề án, dự án như bệnh án điện tử, kê đơn thuốc điện tử, phần mền tra cứu tương tác thuốc, xuất nhập thuốc, thanh toán thuốc bảo hiểm y tế, đặc biệt việc ứng dụng AI giúp tư vấn, thông tin, chỉ định, sử dụng thuốc an toàn hợp lý và hiệu quả hơn; (4) cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại đã được các bệnh viện quan tâm đầu tư cho công tác dược bệnh viện vv.

Trong thời gian tới, phát huy thuận lợi, nắm bắt thời cơ, đồng thời khắc phụ khó khăn, vượt qua thách thức, các bệnh viện cần có kế hoạch và giải pháp phù hợp với tình hình cụ thể của từng đơn vị trong công tác dược bệnh viện góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân./.

00:00 · 23/02/2026 · Tác giả: TS.DS. Cao Hưng Thái, Chủ tịch Hội Dược sĩ bệnh viện Việt Nam
Bình luận (0)
Đăng nhập | Đăng kí để gửi bình luận
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết!

ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN

ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN

với rất nhiều quyền lợi đang chờ đón bạn

ĐĂNG KÝ NGAY

LOGO CÁC ĐƠN VỊ